Bài học tình yêu hay chuyện chàng Augustus


Xưa có một người thiếu phụ cư ngụ tại đường phố Mostacker, do một sự bất hạnh chồng nàng mất ngay sau khi vừa mới thành hôn, để lại nàng nghèo nàn, bơ vơ thui thủi trong căn nhà nhỏ, chờ ngày sinh hạ đứa con đã sớm mồ côi cha. Và bởi vì sống trong nỗi đơn chiếc như thế nên nàng chỉ biết dồn tất cả mọi ý nghĩ của mình vào đứa con sắp chào đời.


Không có cái gì trên đời đẹp đẽ, huy hoàng và đáng để ganh tị mà nàng lại không dành nghĩ đến cho con của mình, ước muốn cho con mình, mơ mộng cho con mình: một ngôi nhà xây bằng đá, lát bằng những tấm gương và một giếng nước phun trong vườn chỉ vừa đủ tốt cho con thôi nhé - nàng nghĩ - còn tương lai của con thì ít nhất sau này con cũng là một vị giáo sư hay là một ông vua…
Ở cạnh nhà Elisabeth tội nghiệp kia có một ông lão - hiếm khi người ta thấy ông, - vả lại đó là một ông già bé choắt, tóc bạc thếch, đầu đội một cái mũ nồi; lão có một cái dù che mưa màu xanh, những que dù làm bằng xương cá như ở thời cổ xưa. Đám trẻ con thường sợ hãi ông ta, còn mấy người lớn thì bảo rằng ông già nọ có những nguyên do để sống ẩn dật một mình như thế. Thường rất lâu không ai thấy ông lão ra vào, nhưng vào buổi tối từ ngôi nhà xiêu vẹo của ông người ta nghe thấy một điệu nhạc thanh tao tựa như tiếng hoà tấu của nhiều loại nhạc cụ nhỏ bé và tinh xảo vẳng ra. Những lúc ấy trẻ con thường hỏi nếu bây giờ con chạy qua nhà ông lão, thì mẹ ơi con có thấy được các thiên thần hay các nàng tiên cá đang ca hát trong nhà ông ấy hay không, nhưng mẹ chúng không biết gì điều ấy cả và gạt đi “Ồ! Không, không phải đâu, đấy chỉ là tiếng nhạc bay ra từ một hộp đồ chơi nhạc trẻ con mà thôi”.
Ông già nhỏ bé ấy - hàng xóm thường gọi ông là ông BinBwanger - lại có một mối tình bằng hữu đặc biệt với Elisabeth kia. Thật ra họ chưa bao giờ nói chuyện với nhau lần nào - nhưng mỗi khi lão già lùn BinBwanger đi ngang qua cửa sổ nhà láng giềng thì ông thường chào nàng
 một cách thân thiết nhất và nàng cũng gật đầu lại một cách biết ơn, lòng đầy cảm mến ông lão, cả hai người đều thầm nghĩ: nếu có lần ta gặp phải chuyện gì vô cùng đau khổ thì chắc chắn ta sẽ qua nhà người láng giềng để xin ý kiến.
Chiều chiều khi trời bắt đầu tối, Elisabeth thường ngồi cô đơn bên cửa sổ buồn tiếc người yêu nhất đời đã quá cố hay nghĩ đến đứa con sắp ra đời và đắm mình trong những cơn mộng lan man, những lúc ấy lão BinBwanger nhẹ nhàng mở rộng cánh cửa sổ nhà ông, rồi từ căn nhà tối tăm đó tuôn chảy ra êm đềm và long lanh như ánh bạc một điệu nhạc đầy an ủi, tựa như một ánh trăng sáng mong manh chảy xuống trần gian qua khe hở của các đám mây. Về phía lão BinBwanger - có lắm khi lão láng giềng để các chồi hoa phong lữ thảo già cỗi ở cửa sổ sau nhà và thường bỏ quên không tưới nước, vậy mà chúng vẫn luôn luôn xanh tốt, xum xuê những hoa và không có một ngọn lá úa nào, bởi vì chúng đã được Elisabeth chăm nom tưới bón vào mỗi buổi sớm mai.
Bấy giờ khi trời đã chuyển sang thu, vào một buổi chiều mưa gió tả tơi, trên đường phố Mostacker không một bóng người qua lại, người thiếu phụ kia bỗng cảm thấy giờ sinh nở đã gần kề, nàng hãi sợ cho cảnh đơn chiếc của mình. Nhưng may sao khi đêm xuống có một bà lão cầm đèn lồng đi đến, bước vào nhà người sản phụ, bắt nước sôi quây màn kín gió cho nàng và làm tất cả mọi thứ cần phải làm để sẵn sàng đón một đứa bé sắp ra đời.
Elisabeth yên lặng để mọi việc xảy ra cho đến khi đứa con nhỏ đã được đặt bên cạnh và ngủ giấc ngủ trần thế đầu tiên trong tấm tã thanh sạch mới mẻ, Elisabeth mới lên tiếng hỏi bà mụ từ đâu đến.
Bà mụ bảo “Ông BinBwanger bảo tôi qua đây”, vừa thoáng nghe người sản phụ đã ngủ thiếp đi trong cơn mệt mỏi. Sáng hôm sau khi nàng tỉnh dậy thì thấy sữa bò đun xong đã để sẵn cho nàng và mọi thứ ở trong phòng đã được thu xếp gọn gàng tươm tất, bên cạnh nàng đứa bé đang nằm khóc đòi bú, còn bà lão thì không thấy đâu cả.
Người mẹ bèn bế con vào lòng, vui sướng thấy con mình xinh đẹp và bụ bẫm. Nhớ đến người cha quá vãng của nó không được thấy con, nàng rưng rưng nước mắt, ôm chặt lấy con vào lòng, rồi mỉm cười với con, nàng lại ôm con ngủ thiếp đi, và khi tỉnh giấc thì lại thấy sữa và cháo đã nấu sẵn, còn đứa bé thì đã được thay tã mới rồi.
Không lâu sau đó người mẹ phục hồi sức khỏe, đã có thể tự chăm sóc cho mình và bé Augustus. Bấy giờ nàng mới sực nhớ là con mình phải được rửa tội và chưa có người cha đỡ đầu. Buổi chiều, khi trời nhá nhem tối thoảng nghe tiếng nhạc ngọt ngào vẳng ra từ túp lều nhỏ của ông lão láng giềng, nàng bèn đi qua thăm ông BinBwanger.
Nàng 
vừa rụt rè gõ vào cánh cửa đen đúa của túp lều thì đã nghe tiếng bên trong ông lão niềm nở: “Xin mời vào” rồi thấy ông ta bước ra chào đón - đồng thời bỗng nhiên tiếng nhạc dừng lại - trong gian phòng có một cây đèn nhỏ bé cũ kĩ đặt trước một quyển sách, còn ngoài ra thì đồ đạc cũng tương tự như ở mọi nhà.
Elisabeth bảo: "Tôi đến tìm cụ để cảm ơn cụ đã cho bà mụ tử tế đến giúp. Tôi sẽ trả tiền cho bà ấy khi tôi có thể làm việc lại và kiếm được chút đỉnh tiền bạc. Nhưng hiện nay tôi đang có một mối lo khác, ông BinBwanger ạ. Tôi nghĩ đứa bé phải được rửa tội và được nhận tên Augustus như cha nó, nhưng tôi không quen biết ai, vả lại cũng không có người nào chịu làm cha đỡ đầu cho nó."
"Ờ, điều đó lão cũng đã nghĩ đến rồi.", người láng giềng vừa nói vừa vân vê bộ râu bạc. "Nếu đứa nhỏ có một người cha đỡ đầu tốt bụng và giàu có để chăm nom nó ngộ nhỡ lúc cô
 ốm đau bất thường thì không có gì hay hơn. Riêng lão, lão cũng chỉ là một lão già đơn độc, có ít bạn bè, cho nên nếu như cô không muốn nhận lão làm cha đỡ đầu cho đứa bé thì lão không thể giới thiệu ai khác cho cô được."
Người mẹ tội nghiệp nghe nói rất đỗi vui mừng, cảm ơn người đàn ông bé nhỏ kia và xin ông nhận làm cha đỡ đầu cho con mình. Hôm chủ nhật kế đó, họ bế đứa nhỏ cùng đến nhà thờ làm lễ rửa tội, trong lúc ấy bà mụ hôm nọ cũng xuất hiện và tặng đứa bé một đồng tiền, và khi người mẹ không dám nhận thì bà già bảo: "Cô cứ cầm lấy đi. Tôi đã già và có đủ các thứ cần thiết rồi. Có khi đồng tiền này đem lại may mắn cho đứa bé đấy. Việc này là bởi tôi muốn làm vui lòng ông lão BinBwanger đấy thôi, chúng tôi là bạn cũ với nhau mà."
Sau đó họ cùng đi về nhà, Elisabeth pha cà phê mời khác, còn ông láng giềng thì đem sang một ổ bánh ngọt làm cho ngày hôm ấy trở thành một buổi tiệc rửa tội đúng lệ. Sau khi uống cà phê, ăn bánh ngọt và đứa bé đã ngủ say từ lâu, ông BinBwangermới khiêm tốn nói: "Như thế giờ đây lão đã là cha đỡ đầu của thằng nhỏ Augustus, lão rất muốn tặng cho nó một lâu đài vương giả và một túi đầy ắp những vàng, nhưng lão đâu có các thứ ấy. Lão chỉ có thể đặt tặng nó một đồng tiền bên cạnh đồng tiền của bà mụ đỡ đầu mà thôi. Vạn dĩ bất cứ điều gì mà lão có thể làm được cho đứa bé thì lão sẽ làm ngay, Elisabeth ạ, chắc chắn là cô đã ước mong cho con trai mình thật nhiều điều đẹp đẽ và tốt lành. Giờ đây cô hãy suy nghĩ thật kỹ đối với cô điều gì là tốt đẹp nhất đối với con mình, rồi lão sẽ tìm cách để điều ước đó trở thành sự thật. Cô được phép có một điều ước cho con trai mình, điều cô mong muốn, nhưng chỉ được có một điều mà thôi, vậy cô hãy đắn đo suy nghĩ kỹ một điều ước cho đến chiều tối nay, lúc nào cô nghe thấy tiếng nhạc từ hộp đồ chơi của lão vang lên thì bà hãy khẽ nói điều ước của bà vào tai đứa bé - điều ước ấy rồi sẽ được toại nguyện."
“Mẹ cầu mong cho con là tất cả mọi người đều phải thương yêu con!”
Bây giờ mọi âm thanh đều tắt lịm, chỉ còn sự yên lặng tột cùng trong gian phòng tối tăm. Riêng người mẹ thì vật vã bên chiếc nôi con, khóc nức nở, lòng đầy hãi hùng và xao xuyến lo âu, bà kêu lên: “Con ơi, mẹ vừa cầu mong cho con điều tốt nhất mà mẹ biết được, nhưng biết đâu điều ấy chưa phải là điều đúng. Và nếu trên cõi đời này, tất cả, tất cả mọi người sẽ yêu thương con thì không có ai có thể yêu thương con hơn mẹ của con đâu.”
Từ đấy Augustus mau ăn chóng lớn như những đứa trẻ khác , cậu trở thành một cậu bé tóc vàng đĩnh ngộ, với đôi mắt sáng ngời và dũng cảm. Được mẹ nuông chìu và mọi người yêu thương, không lâu sau, bà Elisabeth cảm nhận ra điều ước ngày rửa tội của bà đang thành sự thật đối với đứa con. Khi đứa bé vừa đến tuổi biết đi, biết chạy ra đường, và đến với người khác thì ai ai cũng thấy nó xinh xắn, láu lỉnh và khôn ngoan. Thật hiếm có một đứa trẻ như thế, mỗi người đều đưa tay đón nó, nhìn vào tận mắt và tỏ ra mến thương nó. Những bà mẹ trẻ tươi cười với nó và các bà già thì tặng nó những trái táo, và khi nào nó có làm điều gì xằng bậy ở đâu đó thì không ai tin nó là kẻ đã gây ra, hay nếu khi không còn chối cãi được nữa thì người ta nhún vai và nói đỡ: “thật không nên giận trách một thằng bé dễ thương như thế.”
Do sự chú ý đặc biệt đến đứa bé, nhiều người bắt đầu đến với mẹ nó, và người mẹ - trước đây không ai biết đến, cũng như ít nhận được công việc may vá tại nhà – nay trở nên nổi tiếng là mẹ của bé Augustus và được nhiều người bảo trợ ngoài mong muốn của bà. Cuộc sống của bà cũng như của cậu bé trở nên dễ chịu. Mỗi khi hai mẹ con đi đến đâu thì láng giềng đều vui vẻ đón mời và đều đưa mắt nhìn theo hai con người hạnh phúc
Đối với bé Augustus thì điều đẹp đẽ và thích thú nhất là được ở chơi bên nhà cha đỡ đầu. Thỉnh thoảng vào buổi chiều, ông lão gọi cậu sang túp lều của ông, lúc ấy trời vừa nhá nhem, trong túp lều chỉ có một ngọn lửa đỏ cháy leo lét trong cái lò sưởi đen ngòm. Trên tấm thảm da trải ở nền nhà, ông lão kéo cậu bé vào lòng, cả hai ngồi nhìn ngọn lửa cháy im lìm, rồi ông lão bắt đầu kể cho cậu nghe những câu chuyện dài. Nhiều lần, khi một mẩu chuyện dài chấm dứt, chú bé đã buồn ngủ díu mắt và trong sự yên lặng u tối vẫn cố nhìn ánh lửa với đôi mắt lim dim – thì từ trong cõi mịt mùng có tiếng nhạc ngọt ngào gồm nhiều âm thanh khác nhau trỗi lên – và khi cả hai người lắng tai nghe tiếng nhạc hồi lâu, thì thường xảy ra cảnh bỗng nhiên căn phòng tràn ngập những đứa trẻ nhỏ xíu và sáng lóng lánh, chúng bay qua bay lại thành vòng tròn với những đôi cánh bằng vàng chói lọi, và như trong các vũ khúc tuyệt đẹp. Chúng bay chung quanh nhau đầy thẫm mỹ rồi lại bay sóng đôi, chúng vừa múa, vừa ca hát, và trong tiếng ca của chúng như ngân lên trăm vạn lần niềm vui sướng và vẻ đẹp trong sáng. Đấy là điều đẹp nhất mà Augustus đã từng nghe và thấy trong đời. Sau này khi có lần nhớ đến thời ấu thơ thì chính túp lều bé nhỏ, tĩnh mịch và tối tăm của người cha đỡ đầu, chính ngọn lửa hồng trong lò sưởi cùng với điệu nhạc vang vọng, với các điệu bay lượn kỳ ảo huy hoàng của các thiên thần, chính những điều ấy thường trỗi dậy trong ký ức của cậu và khiến cậu nhớ nhà.
Thế rồi cậu bé Augustus mỗi ngày một chóng lớn, bây giờ đã có lắm lúc bà mẹ buồn phiền vì cậu, và buộc bà phải nghĩ đến cái đêm rửa tội cho con ngày xưa. Riêng Augustus thì vẫn hớn hở chạy chơi trên các con đường lân cận, và được đón mừng khắp nơi. Cậu nhận được các hạt dẻ, trái lê, bánh ngọt, đồ chơi… người ta cho cậu ăn và uống, để cậu cưỡi lên đùi và cho cậu hái hoa trong vườn. Thường cậu về nhà rất muộn và đẩy đĩa súp của mẹ một cách bực dọc sang bên. Khi mẹ vì thế buồn rầu và khóc thì cậu thấy điều ấy thật đáng chán và phụng phịu bỏ đi ngủ. Khi mẹ có lần la mắng và phạt cậu thì cậu la hét ầm ĩ, than phiền là tất cả mọi người đều dễ thương và tử tế với cậu, duy mẹ thì không. Người mẹ đã lắm khi có những phút âu lo, tức giận một cách nghiêm khắc về đứa con mình. Nhưng sau đấy, khi nhìn con ngủ ngon trên gối và ánh mắt lung linh trên khuôn mặt trẻ thơ vô tội của con thì tất cả mọi cứng rắn đều biến mất khỏi trái tim người mẹ. Bà cúi hôn con một cách cẩn thận để con đừng thức giấc. Tất cả đều do lỗi của bà khi mọi người đều thích Augustus, có lúc bà rầu rĩ và hầu như kinh hãi nghĩ rằng có lẽ mọi việc sẽ tốt hơn nếu bà không bao giờ nói ra một điều ước nguyện nào cả.
Một lần nọ bà đứng bên cửa sổ hoa phong lữ thảo của ông lão BinBwanger, dùng cái kéo nhỏ cắt những bông hoa héo ra khỏi chồi hoa, bỗng nghe thấy trong sân phía sau các ngôi nhà có tiếng nói của người con trai mình. Bà cúi xuống qua cửa sổ để nhìn rõ hơn. Bà thấy con đang tựa lưng vào tường, với gương mặt đẹp và hơi kiêu hãnh, một cô gái đứng trước mặt cậu, cao hơn cậu, đang nhìn cậu một cách van lơn và nói: “Được không? Anh thật dễ thương. Anh cho em một cái hôn nhé, được không?” “Ta không thích.” Augustus trả lời và thọc hai tay vào túi quần.
“Có mà, em xin anh.” Cô gái nhỏ nói, “Em cũng muốn tặng anh một món quà đẹp mà.”
“Cái gì vậy?” Cậu bé hỏi:
“Em có hai trái táo”, cô bé lại rụt rè nói…
“Ta không thích táo.”, cậu nói một cách khinh bỉ và định bỏ chạy.
Cô bé giữ cậu lại và nói một cách van lơn
“Anh này, em cũng có một chiếc nhẫn.”
“Đưa đây xem”, Augustus xem chiếc nhẫn, Augustus nhìn thật kỹ rồi rút chiếc nhẫn ra khỏi tay cô bé, đeo vào tay mình rồi đưa lên ánh sáng xem với vẻ thích thú.
“Vậy thì em có thể nhận được một chiếc hôn đấy.” Cậu nói một cách kẻ cả và hôn phớt lên môi cô ta.
“Anh có muốn đi chơi với em không?” Cô bé hỏi một cách tin tưởng và khoác tay vào cánh tay cậu bé.
Nhưng cậu ta hất cô ra và hét lên: “Bây giờ thì để ta yên đi. Ta có những đứa trẻ khác mà ta có thể chơi được.”
Trong lúc cô gái bắt đầu òa khóc và lủi thủi đi ra khỏi sân, cậu bé nhăn mặt có vẻ bực dọc, rồi xoay xoay cái nhẫn chung quanh ngón tay, ngắm nghía nó, bắt đầu huýt sáp và chậm rãi bỏ đi.
Lúc ấy bà mẹ đứng đấy với cái kéo cắt hoa trong tay, sững sờ và kinh hãi vì sự tàn nhẫn và miệt thị của đứa con khi nhận sự thương yêu của người khác. Bà để mặc các bông hoa ở đấy, đứng lắc đầu và nói một mình: “Nó thật là độc ác, nó không có trái tim."
Nhưng ngay sau đó khi Augustus về nhà, bà muốn chất vấn cậu thì cậu lại vừa cười vừa nhìn mẹ với cặp mắt xanh ngây thơ và không hề có chút cảm giác tội lỗi nào. Rồi cậu bắt đầu hát và nịnh hót mẹ, cư xử với mẹ một cách tinh nghịch, dễ thương và dịu dàng đến nỗi bà phải bật cười và nhận ra rằng đối với trẻ con người ta không nên vội vã xem mọi sự đều nghiêm trọng đến thế.
Trong lúc ấy các việc làm tệ hại của cậu không phải hoàn toàn không bị trừng phạt. Người cha đỡ đầu BinBwanger là người duy nhất mà Augustus kính sợ, và khi nào cậu đến thăm ông, khi nghe người cha đỡ đầu nói: “Thế nhé, ngày hôm nay lửa trong lò không cháy và không có nhạc, các thiên thần nhỏ bé đang buồn rầu vì con độc ác đấy.”, tức thì Augustus lặng thinh trở ra, đi về nhà, gieo mình xuống giường và nằm khóc. Sau đó có nhiều ngày, cậu bé gắng tỏ ra phục thiện và ngoan ngoãn.
Tuy nhiên lửa trong lò sưởi càng ngày càng cháy hiếm hoi hơn, Augustus không thể đút lót người cha đỡ đầu bằng nước mắt và những lời âu yếm được nữa. Khi Augustus 12 tuổi, thì đối với cậu điệu múa ảo thuật của các thiên thần trong căn phòng của cha đỡ đầu đã trở thành một giấc mơ xa xôi, và nếu mơ đến nó, thì ngày hôm sau cậu lại càng tỏ ra man rợ và ồn ào gấp bội. Và với tư cách sư phụ, cậu lại càng điều khiển đồng bọn mình bạo tợn hơn, bất chấp mọi nguy hiểm.
Về phần mẹ cậu, từ lâu bà đã quá mệt mỏi không còn muốn nghe những lời khen ngợi con mình của tất cả mọi người, cho dù theo họ cậu có thanh nhã, có xinh xắn đáng yêu như thế nào chăng nữa, thì riêng bà, chỉ còn những nỗi âu lo cho đứa con của mình. Thế rồi một hôm, khi thầy giáo của cậu đến gặp bà và kể cho bà là ông ta biết có người sẵn sàng đưa cậu vào học các trường khác… Bà liền sang bàn chuyện với người láng giềng và rồi sau đấy không lâu, vào một buổi sáng mùa xuân, một chiếc xe đi đến và Augustus, trong bộ quần áo mới tinh đẹp đẽ, bước lên xe, chào từ biệt mẹ, cha đỡ đầu và những người láng giềng, bởi vì cậu được phép đi học tại thủ đô. Mẹ cậu đã chải rẽ mái tóc vàng cho cậu một cách tươm tất lần cuối cùng và nói lời cầu nguyện cho cậu. Thế rồi khi ngựa rảo bước, Augustus bắt đầu dấn thân vào một thế giới xa lạ.
Sau nhiều năm khi đã trở thành một sinh viên, mang mũ đỏ và để ria mép, chàng thanh niên Augustus có lần trở về quê cũ, bởi vì cha đỡ đầu viết thư cho chàng báo tin mẹ chàng bị đau nặng, chắc không sống được bao lâu nữa. Buổi chiều người thanh niên về đến nhà, mọi người xôn xao ngưỡng mộ đứng nhìn cách chàng xuống xe như thế nào, cách người đánh xe mang cho cậu một chiếc va-li kếch xù bằng da vào nhà ra sao. Còn người mẹ thì nằm thoi thóp trong căn phòng cũ kỹ, thấp bé. Khi chàng sinh viên đẹp đẽ nhìn thấy khuôn mặt khô héo và trắng bệch trên chiếc gối trắng chỉ còn có thể chào chàng bằng đôi mắt đờ đẫn. Chàng gục xuống bên cạnh giường hôn đôi bàn tay mát lạnh của mẹ và quỳ bên cạnh mẹ suốt cả đêm cho đến khi bàn tay lạnh hẳn đi và đôi mắt khép lại vĩnh viễn.
Khi họ chôn cất mẹ xong, người cha đỡ đầu BinBwanger nắm lấy cánh tay chàng, cùng đi vào túp lều nhỏ, bấy giờ đối với chàng trai, căn nhà lại càng thấp và tối răm hơn. Họ ngồi với nhau thật lâu, và khi chỉ còn những cánh cửa sổ nhỏ bé chấp chới một cách yếu ớt trong bóng đêm, lúc ấy ông già bé nhỏ mới vuốt hàm râu xám bạc của mình bằng những ngón tay gầy guộc và nói với Augustus: “Cha muốn nhen lửa trong lò sưởi như thế để chúng ta khỏi phải dùng đến đèn. Cha biết, ngày mai con sẽ lại ra đi và bây giờ mẹ con đã khuất bóng thì chắc lâu lắm cha con ta mới lại gặp nhau.”
Trong lúc ông lão nhen một ngọn lửa nhỏ trong lò sưởi và xích chiếc ghế bành của ông lại gần hơn, còn người sinh viên cũng kéo ghế lại rồi họ lại ngồi như thế một lúc lâu, nhìn những thanh củi tàn lụi dần cho đến khi các tia lửa bay lên rời rạc, lúc ấy ông lão hiền lành nói: “Tạm biệt Augustus – cha chúc con những điều tốt đẹp. Con đã có một người mẹ hiền thục và mẹ đã lo toan cho con nhiều hơn là con biết. Lẽ ra cha cũng muốn mở nhạc cho con nghe một lần nữa và chỉ cho con thấy các thiên thần hạnh phúc, nhưng con biết đấy, việc ấy không thể nào có được nữa. Tuy vậy con không nên quên chúng và nên biết rằng các thiên thần vẫn luôn còn ca hát và chính con cũng có lần có thể lại nghe thấy chúng, nếu con ao ước gặp chúng với trái tim cô đơn và khao khát. Hãy đưa tay cho cha, con của cha, cha già rồi và phải đi nghỉ.”
Augustus đưa tay cho ông lão và không thể nói một điều gì, chàng buồn rầu đi qua khu nhà hoang vắng và nằm ngủ lần cuối cùng trong chốn quê xưa, trước khi thiếp đi, chàng mơ hồ tưởng mình lại nghe tiếng nhạc ngọt ngào của thời thơ ấy vẳng đến từ bên kia và từ đó người ta bặt tin chàng một thời gian dài.
Rồi chàng cũng quên luôn lão BinBwanger và tiếng nhạc của ông. Cuộc sống giàu sang ùa đến quanh chàng và chàng cũng bám theo con sóng đó mà đi. Không ai có thể cưỡi ngựa tài tử như chàng qua các nẻo đường nhộn nhịp và chàng chào các cô gái ngốc đang ngước nhìn theo bằng ánh mắt chế giễu, không ai có thể biết khiêu vũ một cách nhẹ nhàng và quyến rũ như chàng, có thể ăn uống ồn ào và huyênh hoang suốt cả đêm hè trong vườn như chàng. Có bà góa chồng giàu có – chàng là người tình của bà, đã cho chàng tiền, áo quần, ngựa và tất cả những gì chàng cần và muốn có. Chàng du lịch với bà đến thủ đô Paris, qua Roma và ngủ trên giường lụa là của bà… Nhưng tình yêu của chàng lại dành cho một cô gái tóc vàng hiền dịu con nhà phú gia kia. Đêm đêm chàng mạo hiểm đến thăm khu vườn của cha nàng và nàng lại viết cho chàng những bức thư tình cháy bỏng khi chàng viễn du.
Nhưng có một lần chàng không trở về nữa. Chàng đã tìm được bạn bè ở Paris, và vì người yêu giàu có làm chàng chán ngấy, bởi vì việc học làm chàng bực bội, chàng bèn lưu lại nơi viễn xứ và sống như một đại thế gia, nuôi ngựa, chó, đàn bà… Mất tiền và được tiền từng cuộn vàng… Khắp nơi đều có người chạy theo chàng mỉm cười, nhận lấy tất cả, như xưa kia chàng còn là chú bé đã thu nhận chiếc nhẫn của cô gái nhỏ. Phép lạ của đôi mắt nằm sẵn trong đôi mắt và trên đôi môi chàng. Những người đàn bà xúm xít quanh chàng với sự âu yếm dịu dàng, bạn bè đều ngưỡng mộ chạy theo chàng, va không ai biết – chính chàng cũng không cảm thấy rõ điều ấy - rằng trái tim chàng đã trở nên trống rỗng, tham lam; còn tâm hồn chàng thì bệnh hoạn và khổ đau. Lắm khi chàng trở nên mệt mỏi vì đã được yêu thương thái quá. Đôi khi chàng phải hóa trang thành một người khác, đi lang thang cô đơn qua những thành phố xa lạ. Thế nhưng ở mọi nơi chốn chàng qua, chàng đều thấy con người sao mà điên rồ và dễ dàng bị chinh phục đến thế. Nơi nơi, chàng đều thấy tình yêu đáng buồn cười, nó cứ chạy theo chàng một cách vội vã và dễ được thỏa mãn với vài thứ nhỏ nhoi. Đối với chàng, đàn bà và đàn ông thường trở thành ghê tởm ở chỗ họ không thể tự hào hơn một chút… Chàng thường trải qua suốt nhiều ngày một mình với bầy chó của chàng hay ở những vùng đi săn đẹp trong núi. Một con hươu mà chàng theo dõi bắn được còn làm chàng vui thú hơn việc đi tán tỉnh một người đàn bà đẹp và được nuông chiều.
Thế rồi có một lần trên một chuyến hải du, chàng gặp phu nhân của một vị đại sứ, một người đàn bà nghiêm nghị, mảnh mai xuất thân từ quý tộc miền Bắc. Bà ta đứng giữa nhiều người đàn bà quý phái khác và những nhân vật lịch thiệp hào hoa với một vẻ đặc biệt kỳ diệu, kiêu hãnh, yên lặng như thể không người nào có thể sánh bằng. Khi chàng quan sát bà, khi ánh mắt bà hình như cũng lướt qua chàng dù chỉ thoáng chốc và vô tình, nhưng đối với Augustus thì đây là lần đầu duy nhất trong đời chàng biết được tình yêu là gì. Chàng liền có ý định chiếm cho được tình yêu của nàng… Nhưng từ lúc ấy trở đi, chính chàng cũng bị những người khác vây lấy, cố gắng giao thiệp mong chiếm lấy cảm tình nơi chàng. Chàng bị đám khách du hành ngăn cản với người phụ nữ nghiêm trang xinh đẹp kia như một ông lãnh chúa với bà quận chúa của mình. Trong khi ấy, chính người chồng của người đẹp tóc vàng cũng ưu đãi chàng và cố tìm cách làm vừa lòng chàng.
Chưa bao giờ chàng được dịp ở một mình với nàng cho đến khi họ đến một thành phố cảng miền Nam, đoàn du khách rời tàu đi thăm viếng vài giờ trong thành phố lạ và để có được cái cảm giác thư thái chạm gót giày trên mặt đất. Lúc ấy, chàng không rời nàng nửa bước cho đến khi tìm được dịp giữ nàng lại hàn huyên giữa đám đông trong chợ sặc sỡ sắc màu. Rất nhiều con đường hẻm nhỏ hẹp, tối tăm chạy đến khu chợ này, chàng dẫn người đẹp đi vào một trong những con đường hẻm như thế, nàng tin tưởng đi theo chàng và khi nàng bỗng thấy đứng một mình với chàng, nàng trở nên e ngại khi không thấy những bạn đồng hành của mình đâu nữa… Tức thì chàng hướng về nàng một cách rạng rỡ, nắm lấy bàn tay rụt rè của nàng van xin nàng hãy ở lại trên đất liền và trốn đi cùng chàng…
Người đàn bà tái mặt, cúi nhìn xuống đất: “Ồ, điều này thật không hào hiệp mã thượng chút nào cả.”, nàng nói nhỏ nhẹ, “ngài hãy để cho tôi quên những điều mà ngài vừa nói!”
“Tôi không phải là hiệp sĩ.”, Augustus kêu lên, “Tôi là người đang yêu, và một người đang yêu không biết gì hơn người yêu, không có ý nghĩ nào khác hơn là được ở cạnh người yêu. Ôi người đẹp ơi, em hãy đi với tôi và chúng ta sẽ hạnh phúc với nhau.”
Nàng nhìn chàng một cách nghiêm trang với đôi mắt trong sáng đầy giận dữ: “Từ đâu ngài có thể biết được là tôi yêu ngài?” – Nàng vừa thì thào vừa rên rỉ: “Tôi không thể nói dối: vâng, có lẽ tôi yêu ngài và mong ước rằng ngài là chồng của tôi. Bởi vì ngài là người đầu tiên mà tôi cảm thấy yêu bằng cả con tim. Ôi, tình yêu sao có thể lầm lạc quá xa đến thế này! Tôi không bao giờ nghĩ là tôi có thể yêu một người mà người ấy không trong sạch và không đường hoàng. Nhưng một ngàn lần hơn thà tôỉ ở lại với người chồng mà tôi không yêu bằng, nhưng lại là một hiệp sĩ đầy danh dự và cao quý, điều mà ngài không biết đến và bây giờ xin ngài đừng nói một lời nào nữa. Hãy dẫn tôi trở lại về tàu nếu không tôi sẽ gọi mọi người đến cứu tôi khỏi sự hỗn xược của ngài.”
Mặc chàng cầu xin, mặc chàng nài nỉ, nàng vẫn quay ra, toan bỏ về một mình nếu chàng không tháp tùng nàng và lặng lẽ đưa nàng về tàu. Ở đó chàng đem hành lý lên đất liền, không chào từ biệt một ai.
Từ ngày ấy kẻ hạnh phúc được nhiều người yêu bắt đầu xuống dốc. Đức hạnh và danh dự là hai điều mà chàng ghét cay độc, chàng chà đạp chúng dưới chân, và đối với chàng đó là một thú tiêu khiển khi cám dỗ được những người đàn bà đức hạnh bằng mọi nghệ thuật của sức quyến rũ nơi chàng, hay khi bóc lột những người ngây thơ mà chàng đánh bạn được một cách dễ dàng rồi bỏ rơi họ một cách khinh bỉ. Chàng làm cho các phụ nữ và thiếu nữ nghèo đi, rồi chối bỏ họ ngay sau đấy. Chàng chọn lựa các chàng trai trẻ từ các nhà quý tộc, cám dỗ và làm hư họ. Không một thú vui nào mà chàng không tìm đến và tận hưởng, không một trụy lạc nào mà chàng không học quen rồi lại vất bỏ đi. Nhưng trong tim chàng không còn một niềm vui nào nữa và trong tâm hồn chàng không có một chút âm hưởng gì từ cái thứ tình yêu dễ dãi đến với chàng ở khắp mọi nơi.

Chàng về ở trong một biệt thự vùng quê xinh đẹp tại bờ biển với một tâm trạng u tối và cáu kỉnh, đày đọa đàn bà và bạn bè những lúc họ đến thăm với những tính khí bất thường và những trò độc ác điên rồ nhất của mình. Điều làm chàng chán ngán và buồn ngấy là việc được bu quanh bởi những tình yêu không cầu mà có, không đòi mà đến và không tốn công mà được, chàng cảm nhận được sự vô nghĩa của cuộc đời đã không bao giờ cho mà luôn luôn chỉ biết lấy. Đôi khi chàng nhịn đói một thời gian lâu, hòng chỉ để nghe được lại một lần nữa sự ham muốn thật sự có thể thỏa mãn được một khát khao.
Tin loan ra trong đám bạn bè rằng chàng bị bệnh, cần sự yên tĩnh và cô đơn. Thư từ gửi đến, những thư không bao giờ chàng đọc, và một vài người lo lắng đến hỏi thăm đám người giúp việc về sức khỏe của chàng. Nhưng chàng chỉ ngồi trong căn phòng ở trên biển, lẻ loi và sầu muộn vô tận, phía sau chàng cuộc đời thật trống rỗng và hoang vu, không dấu vết của tình yêu như dòng thủy triều xám bạc đang nhấp nhô ngoài kia. Trông chàng thật là xấu xí trong cách chàng ngồi chồm hổm ở đấy trong cái ghế bành bên cạnh cửa sổ cao, ngấu nghiến một cuộc kết toán với chính mình. Những con hải âu trắng thả mình thoe cơn gió biển lượn qua cửa sổ, chàng dõi theo chúng với ánh mắt vô hồn, nơi đó niềm vui và sự sốt sắng đều biến mất. Duy đôi môi chàng còn nhếch nụ cười đầy cứng cỏi và độc ác khi chàng đã chấm dứt mọi suy tư và bấm chuông gọi người quản phòng đến. Bây giờ chàng ra lệnh cho mời tất cả bạn bè của mình đến tham dự một bữa tiệc vào một ngày đã được xác định; chủ ý của chàng thật ra là nhằm làm cho những người đến sẽ hoảng kinh khi nhìn thấy một căn nhà hoang và xác chết của chính chàng trong ấy và qua đấy, chàng mỉa mai, chế giễu họ. Bởi vì chàng đã đi đến quyết định trước đó là sẽ kết liễu đời mình bằng thuốc độc.
Vào một buổi chiều trước khi buổi tiệc sắp tổ chức, chàng phái tất cả những người giúp việc ra khỏi nhà, các phòng trống chỉ còn lại sự vắng lặng, chàng đi vào phòng ngủ của mình, khuấy một chất thuốc độc mạnh vào trong một ly rượu vang Zyper, nâng ly kề môi.
Nhưng khi chàng định uống ly thuốc độc thì có tiếng gõ cửa. Chàng cố tình không trả lời… thì bỗng cánh cửa mở toang và một ông lão bé nhỏ bước vào phòng. Lão đi thẳng về phía Augustus, cẩn thận lấy cái cốc đầy ra khỏi tay chàng và nói bằng một chất giọng thân thuộc: “Chào con, Augustus, con có mạnh khỏe không?”
Kẻ bị bất ngờ, vừa cáu kỉnh lại vừa hổ thẹn, mỉm cười một cách mỉa mai và nói: “Ông Bingwanger, ông cũng còn sống à? Đã lâu lắm rồi! Ông đang quấy tôi đấy, ông lão thân mến ạ, tôi đang mệt và vừa định uống vài ngụm để ngủ…”
"Lão thấy rồi.” người cha đỡ đầu trả lời: “Con muốn uống để dễ ngủ, con có lý, đấy thật là thứ rượu cuối cùng còn có thể giúp con đấy. Nhưng trước khi uống, chúng ta hãy tâm sự với nhau một lát, con trai của ta, và bởi vì cha đã đi một quãng đường xa xôi để đến đây, nên con không phiền nếu cha được uống một ngụm cho khỏe chứ?”
Nói xong ông lão nâng ly lên miệng và trước khi Augustus kịp ngăn lại thì ông lão đã nốc cạn một hơi thật nhanh.
Augustus mặt mày tái ngắt như thây ma. Chàng nhảy xổ vào cha đỡ đầu, lay vai ông lão và hét lên lanh lảnh: “Này lão già, cha có biết là cha đã uống cái gì đó không?”
Ông lão BinBwanger gật cái đầu bạc khôn ngoan của mình và mỉm cười: “Đó là rượu vang xứ Zyper, như cha thấy, và rượu không đến nỗi tệ. Xem ra con không đến nỗi khổ sở vì thiếu thốn nhỉ. Nhưng con có ít thì giờ và cha cũng không muốn làm phiền con lâu, nếu con thích nghe cha nói.”
Người đàn ông thất chí nhìn sâu vào đôi mắt sáng của người cha đỡ đầu với nỗi kinh hoàng và chờ đợi trong từng khoảnh khắc sẽ thấy ông lão gục xuống chết.
Lúc ấy người cha đỡ đầu đặt mình ngồi xuống ghế một cách thoải mái và gật đầu một cách thân thiện với người bạn trẻ của mình,
“Con lo lắng là ngụm rượu kia có thể hại ta chăng? Con hãy yên tâm! Nhưng việc con lo lắng cho ta là một điều tốt, ta đã không tưởng như vậy. Bây giờ chúng ta hãy nói chuyện với nhau như thời xưa kia. Ta có cảm tưởng là con chán ngấy cái cuộc đời dễ dãi của mình rồi phải không? Điều đó cha có thể hiểu được và khi cha đi rồi thì con có thể rót đầy ly và uống cạn. Nhưng trước đó cha phải kể cho con nghe chuyện này.”
Augustus tựa lưng vào tường, lắng nghe giọng nói khoan hòa và tốt lành của người đàn ông nhỏ bé và già nua nọ, tiếng nói này từ thuở ấu thơ đã rất thân thuộc với chàng và diánh thức trong tâm hồn chàng những hình ảnh của dĩ vãng. Một niềm hổ thẹn và buồn rầu sâu đậm xâm chiếm toàn thân chàng, như thể chàng đang nhìn rõ ràng trong mắt quãng đời thơ ấu trong trắng của chính mình hiện ra.
“Chất thuốc độc của con cha đã uống hết.” ông lão tiếp lời, “Bởi vì chính cha mới là người có lỗi trong sự khốn cùng của con. Mẹ con đã nói lên một điều ước vào dịp rửa tội cho con và cha đã làm mãn nguyện lời ước đó mặc dù lời ước này khá điên rồ. Con không cần phải biết đến nó như thế. Cha rất khổ tâm thấy sự việc đã xảy ra như vậy và cha sẽ rất vui sướng nếu cha còn có thể sống lại một lần nữa cảnh con ngồi trước lò sưởi nhà cha và nghe những thiên thần ca hát. Điều đó không phải là dễ đâu, và trong giờ phút này, đối với con, việc trái tim con còn có lúc có thể trở lại khỏe mạnh, sưng sướng, như xưa thật là chuyện không tưởng. Nhưng điều ấy có thể được con à, và cha xin con là hãy cố thử lại một lần nữa. Lời ước của người mẹ tội nghiệp của con đã làm con đau khổ, Augustus à. Vậy bây giờ con nghĩ thế nào khi cha đề nghị con hãy cho phép cha làm cho con thoả mãn một điều ước, bất cứ điều ước nào đấy? Chắc con sẽ không muốn tiền bạc và tài sản, cũng không muốn thế lực hay tình yêu của đàn bà, những thứ ấy con đã có quá đủ rồi. Hãy suy nghĩ kỹ. Và bao giờ con cho rằng con biết được một phép màu có thể biến cuộc đời hư hỏng của con thành đẹp hơn, tốt hơn và có thể làm cho con một lần nữa vui tươi trở lại thì con hãy ước nguyện điều ấy!”
Augustus ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Chàng đã quá mệt mỏi, vô vọng… một lúc sau chàng nói: “Con cảm ơn cha, cha Bin Bwanger ạ. Nhưng con tin cuộc đời không còn một chiếc lược nào có thể chải suôn trở lại được nữa. Cho nên tốt hơn là con sẽ làm điều mà con đã nghĩ là nên làm trước khi cha bước vào nhà này. Nhưng con cảm ơn vì cha đã đến đây với con.”
“Ừ!” ông lão trả lời một cách đắn đo, “Cha có thể tưởng tượng được là đối với con mọi sự không phải dễ dàng. Nhưng có lẽ con nên suy nghĩ lại một lần nữa đi Augustus ạ, có lẽ rồi con sẽ sực nhớ ra được một cái gì mà cho đến bây giờ con vẫn thấy thiếu nó nhất hay là có lẽ còn có thể sực nhớ lại những thời xa xưa nhất lúc mẹ còn sống và lúc con thỉnh thoảng chạy qua nhà của cha vào buổi chiều. Lúc ấy con đã có nhiều lần cảm thấy hạnh phúc, có phải không?”
Augustus gật đầu: “Vâng, thuở ấy!” và hình ảnh của quãng đời thơ ấu huy hoàng hiển hiện trước chàng, xa xôi và nhợt nhạt như đến từ một tấm gương mờ cũ. “Nhưng thuở ấy không thể nào trở lại được nữa. Con không thể nào ước là mình sẽ trở lại một đứa bé được. Ồ! rồi tất cả lại bắt đầu trở lại từ đầu!”
Không, điều đó sẽ không có ý nghĩa, con nói có lý đấy. Nhưng, hãy thử nhớ lại một lần nữa cái thời con ở với chúng ta tại quê nhà, đến cô gái tội nghiệp mà lúc còn là sinh viên con đã đến thăm vào ban đêm trong vườn của cha cô ấy. Hãy nghĩ đến người đàn bà tóc vàng mà con đã cùng đi trên chuyến tàu. Hãy nghĩ đến tất cả những giây phút mà có lúc con đã thấy mình hạnh phúc… những lúc mà cuộc đời đối với con còn tốt lành, đầy giá trị. Có lẽ rồi con có thể nhận ra được điều gì mà điều ấy xưa kia đã làm cho con hạnh phúc và rồi, con có thể ước muốn điều ấy cho mình. Hãy vì thương cha mà làm điều ấy đi, con trai của cha.”
Augustus nhắm nghiền đôi mắt và nhìn lui lại quãng đời của mình, như khi người ta đứng từ một ngõ hẻm tối tăm dõi tìm một điểm sáng xa xôi kia; nơi mà người ta đã xuất thân từ đấy… Và rồi chàng đã thấy lại điểm sáng ngày xưa ấy rực rỡ, đẹp đẽ bao quanh nơi chàng đứng. Không còn gì có thể làm chàng cảm thấy vui hơn nữa. Chàng càng suy nghĩ nhiều, càng nhớ ra nhiều thì điểm sáng ngày xưa càng tỏa ánh sáng rạng rỡ hơn, đáng yêu hơn, đáng mơ ước hơn và cuối cùng chàng đã nhận ra tia sáng cuối cùng… Nước mắt ràn rụa khuôn mặt chàng…
“Con muốn thử xem”, chàng nói với người cha đỡ đầu, “Xin cha hãy lấy lại phép mầu cũ nơi con, nó đã không giúp cho con chút nào và bù vào đấy xin cha hãy cho con điều này, ấy là cho con có thể yêu thương mọi người.
Vừa khóc, chàng vừa quỳ xuống trước người bạn già, trong lúc sụp người xuống, chàng liền cảm thấy trong tim bừng cháy một tình yêu đối với ông lão già nua… chàng vội vã kiếm tìm lại những ngôn từ, cử chỉ bấy lâu đã quên bẵng để diễn đạt nó.
Người cha đỡ đầu, người đàn ông bé nhỏ ấy, dịu dàng đỡ chàng trên đôi cánh tay ông, dìu chàng vào giường, đặt chàng nằm xuống, vuốt tóc chàng khỏi vầng trán nóng hổi.
“Tốt rồi” ông thì thào vào tai chàng một cách nhỏ nhẹ, “Tốt rồi đấy, con của cha, mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp hơn!”
Trong khi nghe những lời ấy, một cơn mệt mỏi nặng nề xâm chiếm cả thể xác, trong khoảnh khắc, chàng cảm thấy mình già đi hàng nhiều tuổi… chàng lịm vào giấc ngủ thật sâu… trong lúc đó, ông lão lặng lẽ rời bỏ ngôi nhà bỏ hoang.
Augustus choàng tỉnh dậy bởi những tiếng huyên náo, hỗn loạn đang có ở mọi nơi trong căn nhà. Khi chàng nhổm mình dậy, mở cánh cửa gần nhất ra, chàng thấy phòng khách và tất cả các phòng đầy những người bạn cũ, họ đến dự tiệc nhưng chỉ thấy căn nhà trống không. Họ nổi giận và thất vọng, chàng liền đến gần họ, để chinh phục lại tất cả mọi người như thường lệ với một nụ cười mỉm, nói một lời bông đùa… nhưng bỗng nhiên chàng cảm thấy năng lực chinh phục ấy đã rời khỏi chàng. Vừa mới thấy chàng, mọi người đã ùa đến một loạt la mắng chàng và khi chàng mỉm cười một cách yếu ớt, đưa hay tay chống đỡ thì họ nhảy xổ vào người chàng một cách giận dữ.
“Mày, thằng đểu cáng.”, một người quát lên, “Tiền mày nợ tau đâu rồi hử?” và một người khác “Thế con ngựa tau cho mày mượn đâu?” và một người đàn bà đẹp giận dữ nói “Cả thế giới biết hết bí mật của tau là do mày để lộ ra, tao thù ghét mày biết chừng nào, mày là thằng đểu cáng”. Và, một người trẻ tuổi mắt sâu hoắm thét lên với bộ mặt méo mó: “Mày có biết là mày đã hại tao ra sao không, hở thằng quỷ sa tăng, thằng hại đời con trẻ kia?”
Cuộc chửi rủa cứ tiếp tục mãi như thế, mỗi người đều chồng chất những lời lăng nhục, thóa mạ lên chàng, mỗi người đều có lý của mình, nhiều người đã đánh chàng và khi họ bỏ đi họ còn đập phá các tấm gương rồi lấy đi nhiều thứ quý giá, lúc ấy Augustus mới gượng đứng lên được, toàn thân bầm giập, thật nhục nhã! Khi chàng vào phòng ngủ soi gương để rửa mặt thì thấy mình đối diện với một gương mặt héo hắt, xấu xa, cặp mắt đỏ ngầu ứa lệ và vầng trán rỉ máu.
“Đây là sự trả thù” chàng tự nói với chính mình, và rửa sạch máu trên mặt. Khi chàng vừa mới tỉnh hồn một chút thì lại có tiếng ồn ào khác tràn vào nhà, một số người chạy lên thang gác, những chủ nợ mà chàng đã cầm cố căn nhà, một người chồng mà vợ bị chàng quyến rũ, những người cha mà các con trai của họ bị chàng cám dỗ đi vào con đường trụy lạc suy đồi, những đầy tớ na và nữ bị sa thải, cảnh sát và các luật gia. Một giờ sau chàng bị trói gô trong xe và bị đưa vào ngục thất. Cả đám người đuổi theo xe còn la hét chửi bới và hát những bài hát châm biếm, mỉa mai. Có một chú bé đứng ở vỉa hè còn ném một nắm phân qua cửa xe trúng phốc vào mặt chàng.
Cả thành phố đều đầy rẫy những hành vi bỉ ổi của con người này, người mà ai ai đều đã quen biết và thương mến. Không có một thói xấu nào mà chàng không bị tố cáo và không có sự đồi trụy nào mà chàng chối từ. Có nhiều người mà chàng đã quên bẵng đi từ lâu bây giờ đứng trước quan tòa khai ra những điều mà chàng đã phạm những năm trước. Những nô bộc mà chàng đã từng tặng thưởng cũng như đã ăn cắp của chàng đến kể ra hết những điều bó mật về sự phóng đãng của chàng, và mỗi khuôn mặt đều bừng bừng sự kinh tởm và thù ghét. Không có ai đứng ra bênh vực chàng, khen ngợi chàng, tha thứ cho chàng hay nhớ đến những điều tốt đẹp của chàng.
Chàng để yên mọi việc xảy ra, để yên cho họ đưa vào khám rồi từ khám đưa ra trước các quan tòa và các nhân chứng. Đầy ngạc nhiên, và buồn bã, chàng đưa đôi mắt bệnh hoạn nhìn sâu vào những gương mặt độc ác và xấu xí, nhưng lạ thay giờ đây mỗi khuôn mặt này chàng lại nhận ra được đằng sau sự thù hằn và bịa đặt lấp lánh một sức quyến rũ đáng yêu bí ẩn và ánh sáng của con tim. Tất cả những người này trước kia đã yêu chàng và chàng đã không yêu một ai trong bọn họ, và bây giờ thì chàng lại xin mọi người thứ lỗi, tìm cách nhớ lại một cái gì tốt đẹp ở nơi mỗi người.
Cuối cùng thì chàng bị kết án giam vào ngục và không ai được phép đến thăm chàng, lúc ấy, trong những cơn sốt mê man, chàng nói chuyện với mẹ chàng, với cha đỡ đầu BinBwanger, với người đàn bà quý phái miền bắc trên con tàu, và khi chàng tỉnh dậy, ngồi cho qua những ngày khủng khiếp đau cái đau của nỗi nhớ nhung, của sự ruồng rẫy và mòn mỏi khát khao được thấy một gương mặt người, như chưa bao giờ ở trong đời chàng đã mòn mỏi khắc khoải chạy theo bất cứ một hưởng thụ hay một chiếm đoạt nào như thế cả…
Khi được phóng thích khỏi nhà tù thì chàng đã già hẳn đi và bệnh họan. Không ai còn biết đến chàng nữa. Thế giới này cứ chạy theo nhịp đời, người ta đi xe, cưỡi ngựa và dạo chơi và báo chí vẫn được bày bán, chỉ duy có chàng Augustus thì không ai đoái hoài đến nữa. Những người đàn bà đẹp xưa kia chàng đã từng cặp kè trong tiếng nhạc và rượu champane, vẫn dập dìu từng đoàn ngựa xe lướt qua bên chàng và để lại đằng sau họ đám bụi tung bay phủ lấy chàng Augustus.
Nhưng sự trống rỗng và cô đơn khủng khiếp và trước đây giữa quãng đời hào nhoáng chàng tưởng như bị bóp nghẹt trong ấy bây giờ đã hoàn toàn biến mất. Khi chàng đứng dưới một cổng nhà để tránh ánh nắng gay gắt của mặt trời trong chốc lát hay khi chàng vào sân của một căn nhà phía sau để xin một ngụm nước, chàng thường ngạc nhiên không hiểu tại sao mọi người lại nghe chàng một cách hậm hực và thù địch đến như vậy, họ cũng là những người mà trước đây đã từng cảm ơn chàng rối rít về những lời nói kiêu ngạo và vô tình mà chàng ban cho họ và đã trả lời chàng với cặp mắt sáng ngời. Về phần chàng giờ đây sự gặp gỡ mỗi một con người đều làm chàng vui sướng, cảm xúc và rung động, chàng yêu thích trẻ con đang chơi đùa và đi đến trường, chàng thương mến những người già nua ngồi trên ghế trước cửa nhà đưa đôi tay héo hắt của mình sưởi ấm trong ánh mặt trời. Mỗi khi chàng thấy một người trẻ tuổi đang theo dõi một cô gái với ánh mắt thèm muốn hay một người lao công tan việc trở về nhà bế con trên tay, hay một người bác sĩ lịch sự và khôn ngoan đang lái xe một cách yên lặng và vội vã, tâm trí chỉ nghĩ đến bệnh nhân, hay một gái giang hồ nghèo, ăn mặc rồi tàn, mỗi chiều đứng đợi khách dưới cột đèn nơi ngoại ô vắng vẻ và mời chàng tình yêu, ngay cả chàng, kẻ bị mọi người xua đuổi, thì tất cả những người này đều là anh em và chị em của chàng, và mỗi một người đều mang trong mình một hoài niệm về một người mẹ đã được yêu thương, về một xuất xứ tốt lành hơn hay về một dấu hiệu bí mật của một sự an bài đẹp hơn, cao quý hơn và đối với chàng, mỗi người đều đáng yêu, đáng quan tâm. Họ cho chàng cơ hội để nghiền ngẫm suy tư và không ai là người xấu hơn như chàng tự cảm thấy.
Bây giờ Augustus quyết tâm đi khắp cả thế gian để tìm một nơi mà ở đó chàng có thể giúp ích mọi người bằng mọi cách và chứng tỏ cho họ tình yêu của chàng. Chàng phải tập cho quen với việc là bây giờ vẻ nhìn của chàng không làm cho ai vui sướng cả; gương mặt của chàng đã nhăn nheo, áo quần giày dép đều là những thứ của một kẻ ăn mày, ngay cả giọng nói và dáng đi của chàng cũng không còn một chút gì của cái mà thời xưa đã làm cho mọi người vui thích và bị mê hoặc nữa. Các trẻ con sợ hãi chàng vì bộ râu bạc xồm xoàm của chàng lại lòng thòng, những người ăn bận lịch sự tránh né chàng, cạnh chàng họ cảm thấy khó chịu và bị vấy bẩn lây, còn những người nghèo thì nghi kỵ chàng như một kẻ lạ chỉ chực chớp đi của họ lấy một vài miếng ăn. Và như thế chàng đã phải nhọc công tốn sức để phục vụ con người. Nhưng chàng vẫn học hỏi và không để một điều gì làm mình bực dọc. Chàng thấy một đứa bé con nhướn người lên gần cái then cửa của tiệm bánh mỳ nhưng đôi tay nhỏ không với tới. Chàng có thể giúp bé ngay, và lắm khi cũng còn tìm ra được một kẻ còn nghèo hơn cả chính chàng nữa, một người mù hay một người bị tê liệt chẳng hạn, chàng có thể đến đỡ họ một chút trên quãng đường đi và an ủi họ. Và ở đâu chàng không làm được điều ấy được thì chàng vẫn còn trao tặng được một cách vui vẻ cái ít ỏi mà chàng có, một cái nhìn tươi sáng và nhân hậu, một lời chào anh em, một cử chỉ hiểu biết hay thương cảm. Trên các nẻo đường đi của mình, chàng đã học được cách đọc thấy ở mọi người điều gì mà họ chờ đợi nơi chàng, nơi đâu họ có thể có được niềm vui thích. Có người thích một lời chào tươi tắn và lớn tiếng, có kẻ thích một cái nhìn yên lặng, lại có kẻ khách thích người ta lánh xa và không muốn ai quấy nhiễu. Hàng ngày chàng đều ngạc nhiên thấy trên thế gian biết bao điều khốn khổ và con người dù vậy vẫn có thể vui thú ra sao, và chàng thấy thật tuyệt diệu cũng như hào hứng, có thể nhận ra được làm sao bên cạnh mỗi sự khổ đau vẫn tìm được một tiếng cười vui, bên cạnh mỗi tiếng chuông báo tử vẫn tìm được một bài hát trẻ thơ, bên cạnh mỗi sự cùng quẫn và mỗi sự đểu giả vẫn tìm được một nụ cười trung hậu đứng đắn, một câu chuyện vui, một lời an ủi, một nụ cười.
Đối với chàng cuộc đời người như đã được sắp xếp một cách ưu việt. Khi chàng rẽ vào một góc đường và đụng phải một đoàn học sinh chạy nhảy ngược lại, ở họ từ mọi đôi mắt lóe sáng lên biết bao lòng can đảm, niềm vui sống và vẻ đẹp thanh xuân, và khi bọn trẻ chọc ghẹo, hành hạ chàng, chàng không thấy điều đấy là tệ hại, ngược lại càhng thấy điều đó dễ hiểu, và chàng lại tìm được chính mình, khi thấy bóng mình, cái dáng dấp thật là tàn tạ và khốn khổ, phản chiếu trong cửa kính mỗi tiệm hiệu chàng đi qua hoặc trên mặt giếng lúc chàng uống nước. Không, đối với chàng thì giờ đây vấn đề không còn nằm ở chỗ làm vừa lòng mọi người với vẻ bề ngoài hay sử dụng thế lực, những thứ ấy ngày xưa chàng đã có thừa rồi. Giờ đây đối với chàng thật là đẹp đẽ và đầy phấn khởi, khi được nhìn những người khác đang vươn lên và tự hào trên những chặng đường đời kia, những quãng đường mà ngày xưa chàng đã trải qua, khi được nhìn mọi người đầy hăng say và với tất cả sức lực cũng như với bao kiêu hãnh và niềm vui sướng đi theo mục đích của mình như thế nào, đối với chàng đó là một tấn trò đời tuyệt diệu.
Giữa lúc ấy trời vào đông rồi trở lại sang hè, một thời gian lâu Augustus bị bệnh nặng nằm liệt giường trong một nhà thương làm phúc, và ở đây chàng lại thưởng thức một cách lặng lẽ và biết ơn sự may mắn được chứng kiến cảnh những người nghèo khổ và bị quỵ ngã vẫn cố bám lấy cuộc đời va cố vượt khỏi cái chết bằng nguồn sức lực dẻo dai và tràn ngập hy vọng. Thật là tuyệt diệu khi thấy được trên những nét mặt của những người trọng bệnh sự nhẫn nại và trong đôi mắt của những người được bình phục sự ham sống rõ rệt đang đâm chồi, đẹp thay là những gương mặt bình yên và đáng kính của những người từ trần. Và đẹp hơn tất cả những điều trên là tình thương và sự kiên nhẫn của những nữ điều dưỡng viên xinh đẹp và trong trắng. Nhưng khoảng thời gian này rồi cũng đi đến hồi kết thúc, gió thu thổi về và Augustus tiếp tục đi lang thang, bước lần sang mùa đông, có một sự nóng lòng kỳ lạ xâm chiếm tâm hồn chàng khi nậhn ra mình đã tiến lên một cách vô cùng chậm rãi như thế nào, bởi vì chàng rất muốn nhìn vào mắt của biết bao con người trên thế gian.
Tóc chàng đã nhuốm bạc và đôi mắt chàng ánh những nụ cười ngớ ngẩn sau đôi mi mắt đỏ ngầu và bệnh hoạn, dần dần ký ức của chàng cũng trở nên vẩn đục, đến nỗi lắm lúc chàng nghĩ rằng chưa bao giờ chàng đã nhìn cuộc đời khác hơn ngày hôm nay; nhưng lòng chàng thì thỏa mãn và thế gian đối với chàng thật tuyệt vời và đáng yêu.
Vào một buổi chớm đông chàng phiêu bạt đến một thành phố; tuyết bay trên các nẻo đường tối tăm, một vài cậu bé lêu lổng đường phố về muộn ném theo những trái bóng tuyết vào người đi đường, ngòai ra vạn vật tĩnh mịch trong bóng chiều. Bây giờAugustus đã quá mệt mỏi, lúc ấy chàng lần vào một con đường hẹp, thấy con đường ấy rất quen thuộc với mình, chàng lại rẽ vào một con đường nữa, ở đó hiện ra ngôi nhà của mẹ chàng và nhà của ông lão BinBwanger, nhỏ bé và cũ kỹ trong cơn tuyết bay lạnh lẽo, ở bên nhà của người cha đỡ đầu thấy một cửa sổ sáng, đang lấp lánh ánh hồng ấm áp và thanh bình trong đêm đông giá.
Augustus bước tới gõ cửa và người đàn ông bé nhỏ già nua ra mở cửa cho chàng rồi yên lặng dẫn chàng vào trong gian nhà bé nhỏ tồi tàn của ông, ở đó thật là ấm áp và yên tĩnh. Một ngọn lửa nhỏ đang cháy trong lò sưởi
Người cha đỡ đầu hỏi: “Con có đói bụng không?” Nhưng Augustus không đói, chàng chỉ mỉm cười và lắc đầu.

Người cha đỡ đầu lại hỏi: “Nhưng con chắc mệt mỏi lắm phải không?” Lão trải tấm da rộng cũ kỹ của mình ra nền nhà rồi cả hai người già nua ngồi thu mình bên nhau trên đó và cùng nhau nhìn ngọn lửa.
“Con đã đi một quãng đường dài nhỉ”, người cha đỡ đầu nói.
“Ồ vâng, tuyệt vời lắm, con chỉ hơi mệt một chút thôi. Con được phép ngủ lại đây với cha không? Ngày mai con sẽ tiếp tục đi.”
“Được chứ, con có thể ngủ lại đây. Vậy con cũng không thích thấy lại những thiên thần nhảy múa hay sao?”
“Những thiên thần ư? Ồ có chứ, con muốn lắm ạ. Ước gì một lần nữa con có thể trở lại là một đứa bé con bố nhỉ.”
“Thật là lâu lắm rồi chúng ta đã không gặp nhau!” Người cha đỡ đầu lại khơi chuyện. “Bây giờ con đã trở nên thật đẹp đẽ, đôi mắt con đã trở lại trong sáng và hiền lành như thuở xưa, như hồi mẹ con còn sống. Con thật là dễ thương đã đến đây thăm cha.”
Trong bộ quần áo rách rưới, người lãng tử ngồi gục mình bên cạnh người bạn già. Chưa bao giờ chàng mệt mỏi đến thế, sự ấm áp tuyệt vời và ánh lửa hồng làm chàng hoang mang đến nỗi chàng không thể phân biệt giữa ngày hôm nay và thuở xa xưa một cách rõ ràng được nữa.
“Bố BinBwanger ạ”, chàng nói, “Con đã không ngoan ngoãn một lần nữa rồi và mẹ đã khóc ở nhà đấy. Bố phải nói chuyện với mẹ và bảo mẹ là con sẽ lại ngoan ngoãn. Bố sẽ nói với mẹ phải không bố?”
“Bố sẽ nói”, người cha đỡ đầu bảo, “Con hãy yên tâm, mẹ con luôn yêu thương con mà.”
Bấy giờ ngọn lửa cháy nhỏ dần và Augustus đăm chiêu nhìn ánh lửa hồng yếu ớt bằng đôi mắt mở to ngái ngủ y hệt như ngày trước hồi còn thời thơ ấu của mình, và người cha đưa tay đỡ đầu chàng vào lòng ông; một điệu nhạc thanh tao hân hoan vang vang lên trong căn phòng, đầy êm ái và hạnh phúc, rồi hàng nghìn bóng người nhỏ bé sáng ngời bay lơ lửng, chúng tươi vui lượn vòng quanh nhau trong những kiểu bay xoắn tít đầy nghệ thuật và những kiểu bay từng đôi trong không gian. Augustus nhìn đăm đăm, lắng tai nghe và mở rộng tất cả mọi giác quan trẻ thơ non nớt của mình đón chào thiên đường đã tìm lại được.
Một lần chàng nghe như có tiếng mẹ gọi tên mình, nhưng chàng đã mệt mỏi quá sức, vả lại người cha đỡ đầu có hứa với chàng ông sẽ nói chuyện với mẹ. Thế rồi khi chàng ngủ thiếp đi, người cha đỡ đầu xếp hai tay của chàng lại với nhau, lão cúi xuống lắng nghe nơi con tim đã trở nên yên lặng của chàng cho đến khi căn phòng nhỏ ngập tràn bóng đêm.

Herman Hesse

Dịch giả: Thái Kim Lan

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét